Những kỹ năng sơ cấp cứu cần thiết

Trong cuộc sống, đặc biệt là hiện nay, cuộc sống hiện đại, tấp nập, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp, rủi ro, tai nạn luôn rình rập mà chúng ta không thể lường trước và tránh khỏi. Để đối phó và xử lý những tình huống xấu xảy tra, chúng ta cần trang bị những kiến thức, kỹ năng sơ cấp cứu cần thiết. Những kỹ năng sơ cấp cứu này tuy đơn giản, nhưng lại hiệu quả, và phần nào có thể giúp cứu mạng sống của chúng ta, những người thân, bạn bè, và mọi người. Trang bị những kỹ năng sơ cấp cứu này là điều thiết yếu mà mỗi chúng ta cần biết. Những tai nạn, rủi ro có thể xảy đến với mọi người bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu từ “rắn cắn”, “điện giật”, “bỏng nước sôi” (hoặc bị phỏng do nhiệt độ cao), “ngạt khói”, “đuối nước”, “gãy xương”, “đột quỵ”, “suy tim”, “trúng gió”, “hóc dị vật”, “ngộ độc thực phẩm”, “bong gân”, tới “co giật”, v…v…Nếu hiểu và biết cách xử lý tại chỗ chúng ta sẽ tăng khả năng cứu sống những người bị nạn trước khi quá trễ. Quá trình vận chuyển người bị nạn tới những trạm y tế, hoặc bệnh viện khá khó khăn và mất thời gian, chưa kể là còn phụ thuộc vào tình hình giao thông. Vì vậy, những kỹ năng sơ cấp cứu này là một phương pháp hiệu quả cao giảm nguy cơ tử vong. Dưới đây là một số kỹ năng sơ cấp cứu cần thiết mà mọi người nên tìm hiểu và tham khảo.

1> Rắn cắn

Trường hợp bị rắn cắn cũng khá phổ biến, đặc biệt là những vùng có cây cối, cỏ rậm rạp. Những khu này là nơi sinh sống, trú ngụ lý tưởng của các loài rắn. Trường hợp khi chúng ta bị rắn cắn thì phải bình tĩnh xử lý như sau. Kiểm tra xem vết cắn, vùng da, dấu răng, triệu chứng để xác định xem là bị rắn thường hay rắn độc cắn. Việc xác định rất quan trọng trong việc sơ cấp cứu. Thường thì rắn độc cắn sẽ để lại vết 2 dấu răng cắn, cũng có trường hợp là 3 hoặc 4 vết; trong khi rắn thường cắn để lại vết 4 dấu răng cắn. Triệu chứng: nếu là bị rắn độc cắn thì cơ thể sẽ phản ứng mạnh như trào đờm, người mệt mỏi, lã, mắt sụp, khó thở, máu chảy nhiều, sưng hoặc phù nề; còn đối trường hợp rắn thường cắn thì cơ thể phản ứng nhẹ hoặc hầu như không có. Ngoài ra, nếu chúng ta có kiến thức sẵn có hoặc học thêm về các loài rắn độc và không độc thì có thể xác định chính xác là bị loại nào cắn, có độc hay không.

Cách sơ cấp cứu:

  • Đối với rắn thường khi bị cắn, mà chúng ta xác định được chính xác rõ ràng, các dấu vết, triệu chứng thì chúng ta chỉ cần rửa sạch và băng sơ vết thương, sau đó tới các trạm y tế hoặc bệnh viện để khám và áp dụng biện pháp điều trị thích hợp vùng bị cắn.
  • Đối với rắn độc khi bị cắn, mà chúng ta xác định được chính xác rõ ràng, các dấu vết, triệu chứng đã mô tả ở trên thì chúng ta cần nhanh chóng rửa sạch vết thương bằng nước sạch, dùng bất kỳ loại vật liệu nào làm “garô” (băng ép) – có thể là vải, dây nhựa, ….để làm dây buộc vết thương, giúp ngăn nọc độc lan truyền sâu hơn trong cơ thể. Lưu ý: để tránh tổn thương, chúng ta cần dùng vật liệu có bản lớn để giảm nguy cơ tổn thương và buộc những nơi có thể. Sau đó nhanh chóng tới các cơ sở, trạm y tế, bệnh viện để được khám và điều trị thích hợp.

Ngoài biện pháp sơ cấp cứu, chúng ta cũng cần trang bị những thuốc, dụng cụ cần thiết để phòng ngừa nếu đi vào các khu vực có nguy cơ đối mặt với các loài rắn độc.

2> Bị phỏng hoặc bỏng

Các rủi ro có thể xảy ra thường xuyên và tỷ lệ cao khi nhắc đến thì có thể xem “bị phỏng” hoặc “bị bỏng” là một trong những rủi ro mà chúng ta không thể tránh khỏi trong cuộc sống hàng ngày. Bị phỏng có nhiều dạng: bị phỏng bô xe, bị phỏng nước sôi, bị phỏng do điện giật, bị phỏng do hóa chất có thể là axit, v…v.. Tùy vào trường hợp bị phỏng mà có những cách sơ cấp cứu khác nhau nhằm giải quyết được vấn đề tổn thương và tránh hậu quả xấu sau khi điều trị.

Có 3 cấp độ bỏng cơ bản: cấp độ 1 là bỏng nhẹ, cấp độ 2 là bỏng khá nặng, và cấp độ 3 là bỏng nặng. Cần xác định một số yếu tố để xác định trường hợp bỏng như diện tích bị bỏng, độ sâu chỗ bị bỏng, và vị trí chỗ bị bỏng.

Tùy vào trường hợp bỏng mà có cách xử lý khác nhau:

  • Nếu bị bỏng do nước sôi, ta có thể giảm nhiệt, làm mát bằng cách cho nước từ vòi nước chảy trực tiếp trên phần bị bỏng hoặc ngâm vào nước lạnh (tránh ngâm bằng nước đá). Sau đó dùng bông băng sạch, băng lỏng và sơ vùng bỏng để tránh bị nhiễm trùng. Kế tiếp, tới bệnh viện gần nhất để được điều trị hợp lý.
  • Nếu bị bỏng do điện giật, ta cần dùng vật dụng cách điện như gỗ, cao su để di chuyển nạn nhân ra nguồn điện hoặc ngắt nguồn điện nếu được. Sau đó tùy vào tình trạng nặng nhẹ mà xử lý, nếu nạn nhân bất tỉnh thì cần dùng biện pháp kích thích tim đập, hô hấp và sơ cứu tạm thời những vùng bị bỏng (dùng bông băng sạch, băng lỏng chỗ bỏng nếu được để tránh bị nhiễm trùng). Sau khi đã xử lý xong phần sơ cứu thì nhanh chóng đưa bệnh nhân tới bệnh viện để được chuẩn đoán và điều trị thích hợp.

3> Bỏng do hóa chất

Các trường hợp bị bỏng do hóa chất cũng khá là phổ biến. Bỏng do hóa chất có thể là acid (axít). Thường đây là những trường hợp bị bỏng nặng. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp bị nhẹ. Tùy vào loại hóa chất mà có cách xử lý khác nhau. Trường hợp không xác định được thì ta dùng càng nhiều nước sạch rửa vùng bị bỏng càng tốt. Trường hợp xác định được là acid thì ta dùng nước sạch có pha bicarbonat để rửa vết bỏng. Hoặc dùng chanh với nước sạch để rửa vết bỏng nếu bị bỏng do chất kiềm. Tuy nhiên, một số trường hợp đặc biệt như bị bỏng ở mắt do hóa chất gây ra thì ta chỉ được rửa bằng nước sạch, rửa càng nhiều càng tốt.

Những trường hợp bị bỏng mà vết thương có dấu hiệu chảy máu, thì ta cần xử lý và sơ cấp cứu như là vết thương chảy máu, cần cầm mắt, dùng bông băng sạch băng lại. Sau đó chuyển tới bệnh viện gần nhất để được điều trị hợp lý.

Nếu quần áo dính hóa chất gây bỏng, thì ta cần loại bỏ ngay (lưu ý không nên dùng tay không).

4> Ngộ độc thực phẩm

Một trong những rủi ro khả năng xảy ra cao và khá phổ biến là ngộ độc thực phẩm. Mỗi ngày, chúng ta phải tiêu thụ một lượng thức ăn khá nhiều bao gồm bữa sáng, trưa, chiều, và tối. Ngoài ra còn có các bữa ăn phụ khác. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới ngộ độc thực phẩm. Một số nguyên nhân cơ bản: do ăn thực phẩm bẩn (thực phẩm ôi thiu, nhiễm khuẩn, không hợp vệ sinh), thực phẩm nhiễm độc (thực phẩm chứa các chất bảo quản có hại cho sức khỏe). Sơ cứu cho người bị ngộ độc là cần thiết để giúp họ giảm nguy cơ tử vong hoặc giảm tình trạng bị nặng hơn trước khi chuyển tới bệnh viện điều trị.

Có 2 dạng ngộ độc thực phẩm chính là: ngộ độc mãn tính (do ăn thực phẩm không đảm bảo chất lượng về dinh dưỡng, vệ sinh, có chứa độc tố, hại cho sức khỏe. Không có biểu hiện rõ ràng sau khi ăn mà tích lũy lâu ngày dẫn tới các loại bệnh nguy hiểm tới sức khỏe, mạng sống) và ngộ độc cấp tính (do ăn phải thực phẩm có độc tố cao, hoặc thực phẩm nhiễm khuẩn. Thường sẽ xuất hiện các triệu chứng ngay lập tức sau khi ăn như nôn mửa, tiêu chảy, cơ thể mệt lã, chóng mặt, xây xẩm, bụng đau…). Đối với trường hợp ngộ độc cấp tính cần xử lý nhanh chóng và đưa tới bệnh viện để được điều trị phù hợp vì người ngộ độc có thể tử vong sau đó.

Biện pháp sơ cứu cần làm là tìm cách để gây nôn và nôn những thức ăn đã ăn. Đây là cách hiệu quả nhất nhằm loại bỏ độc tố trong cơ thể ra ngoài. Nếu xác định được nguyên nhân rõ ràng thì có thể dùng các chất để giải độc, hoặc trung hòa chất độc, đồng thời kết hợp với một số chất bảo vệ ngăn ngừa chất độc thấm qua niêm mạc dạ dày.

Sau đó nhanh chóng đưa người bị ngộ độc tới bệnh viện gần nhất để được chuẩn đoán và điều trị thích hợp.

5> Bị hóc dị vật ở cổ họng

Trường hợp bị hóc dị vật ở cổ họng cũng khá phổ biến bao gồm tất cả các lứa tuổi, nhưng thường xảy ra ở lứa tuổi trẻ em là phổ biến nhất. Nguyên nhân là do sự bất cẩn của các phụ huynh cho con nhỏ chơi những đồ chơi, vật dụng kích thích sự tò mò của trẻ và dễ nuốt. Ngoài ra còn liên quan đến những thức ăn như hột chôm chôm, nhãn, hoặc thạch. Tùy vào độ tuổi bị hóc và hóc dị vật nào mà có trường hợp sơ cứu phù hợp.

Điều  quan trọng là ta cần phải giữ bình tĩnh, xem xét tình hình để có biện pháp sơ cứu phù hợp. Tránh dùng tay móc dị vật, vì với cách thức này có thể làm cho dị vật rơi sâu hơn. Nếu sắc mặt của trẻ bị hóc vẫn hồng hào, bình thường không có hiện tượng khó thở thì ta giữ nguyên tư thế ngồi và nhanh chóng đưa tới bệnh viện gần nhất để có biện pháp xử lý kịp thời.

Đối với trường hợp bị hóc dị vật gây tắc nghẽn đường thở mà ở trẻ em dưới 2 tuổi có dấu hiệu khó thở, tím tái thì ta nhanh chóng gọi xe cấp cứu, và trong quá trình chờ xe cấp cứu thường chúng ta sẽ xử lý như sau: đặt trẻ nằm sấp đầu nghiêng xuống, 2 chân cao so với đầu, sau đó dùng mu bàn tay vỗ mạnh lưng để kích thích dị vật rơi ra. Trong trường hợp dị vật chưa rơi ra thì bế trẻ nằm ngửa, đầu cũng nghiêng xuống, 2 chân cao hơn so với đầu, dùng 2 – 3 ngón giữa ấn vào phần ức ngực với lực vừa phải, lặp lại quy trình cho tới khi dị vật rơi ra hoặc tới bệnh viện gần nhất để được xử lý nhanh chóng.

Đối với trường hợp trẻ em hơn 2 tuổi hoặc người lớn thì ta dùng phương pháp Heimlich: đứng phía sau lưng người bị hóc, ôm chặt với động tác ép bụng 6 – 10 lần người bị hóc. Đối với trường hợp bị hôn mê, bất tỉnh thì ta kết hợp hà hơi thổi ngạt. Lặp lại quy trình cho tới khi tới bệnh viện gần nhất.

Trong trường hợp đã lấy được dị vật ra, chúng ta cũng cần chuyển nạn nhân bị hóc tới bệnh viện để kiểm tra trong trường hợp nếu còn sót dị vật cũng như kiểm tra tình trạng sức khỏe.

6> Bị bông gân

Trường hợp bị bông gân cũng khá phổ biến, thường bắt gặp nhiều ở người lớn, trong quá trình vận động liên tục, nhanh hoặc bất cẩn mà bị bông gân. Những trường hợp bị bông gân nặng, ta cần dùng đá lạnh chờm chỗ bị bông gân để giảm bớt cơn đau. Tránh dùng vật nóng để vào chỗ bông gân vì có thể làm tổn thương thêm vùng bị bông. Sau đó nhanh chóng tới bệnh viện gần nhất để được điều trị hợp lý. Tránh trường hợp xoa, bóp, nắn vùng bị bông.

7> Bị co giật

Những trường hợp co giật có nhiều nguyên nhân, trong đó phổ biến là do động kinh. Trong trường hợp này, chúng ta nhanh chóng tìm vật mềm thường là khăn hoặc tấm vải mềm và cho vào miệng người bị co giật. Nguyên nhân là để giúp người co giật tránh tự cắn lưỡi của họ. Không nên dùng vật cứng vì có thể gây tổn thương hoặc chấn thương vùng miệng, xương quai hàm hoặc răng. Tìm nơi thoáng mát để đặt họ trong quá trình chờ xe cứu thương, trường hợp nạn nhân gần bệnh viện thì nhanh chóng đưa tới bệnh viện để được chữa trị hợp lý.

8> Đuối nước

Đuối nước hoặc chết đuối là một trong những rủi ro phổ biến nhất, đặc biệt là những vùng gần sông hồ, ao nước. Xảy ra đối với tất cả các đối tượng tự biết bơi lẫn không biết bơi. Mà phổ biến nhất là ở trẻ em.

Những điều cần lưu ý khi gặp trường hợp đuối nước:

  • Cần xác định xem tình trạng người đuối nước. Trường hợp người đuối nước bất tỉnh thì ta nhanh chóng kéo người bị nạn vào bờ và sơ cứu (nếu ta biết bơi), trường hợp nạn nhân còn đang vùng vẫy thì ta cần dùng 1 tay kẹp người nạn nhân, và để đầu nạn nhân được nhô khỏi mặt nước và đưa vào bờ, tránh để nạn nhân kéo ta theo trong quá trình cứu. Trường hợp nạn nhân còn tỉnh, nếu có những vật dụng có thể quăng cho nạn nhân làm phao thì ta không nên vội xuống nước.
  • Cần xác định xem chúng ta có biết bơi hay không, nếu không thì cần hô hoán nhờ người trợ giúp, không nên tự cứu người đuối nước nếu ta không biết bơi. Tuy nhiên, nếu mực nước không quá sâu hoặc độ nông vừa phải (nếu xác định được chính xác) thì ta có thể cứu người đuối nước.
  • Trường hợp ta biết bơi thì cần nên khởi động trước khi nhảy xuống nước để tránh tình trạng bị chuột rút.

Điều cần thiết là ta cần phải giữ bình tĩnh để sơ cứu nạn nhân trong quá trình chờ xe cấp cứu hoặc đang trên đường tới bệnh viện.

Cách sơ cứu: Trong quá trình vừa làm thông đường thở bằng cách móc đờm ở miệng nạn nhân và hà hơi thổi ngạt (còn được gọi là hô hấp nhân tạo qua đường miệng), ta đồng thời dùng hai tay đặt chồng lên nhau và đặt vào vị trí 1/2 dưới xương ức và ấn ép với tần số là 100 lần/1 phút. Lặp đi lặp lại quá trình cho tới khi nạn nhân tỉnh hoặc tới bệnh viện. Trong trường hợp nạn nhân đã tỉnh thì cũng cần tới bệnh viện để được chuẩn đoán và điều trị hợp lý.

Tóm lại, có muôn vàn rủi ro trong cuộc sống mà ta không thể tránh khỏi, nhưng nếu biết cách sơ cứu hợp lý thì ta có thể giúp hoặc cứu sống người gặp nạn. Giảm tỷ lệ tử vong. Nhưng điều quan trọng hơn hết là ta cần trang bị những kiến thức cơ bản cần thiết, và cần giữ bình tĩnh trong mọi trường hợp để xử lý tình huống một cách hiệu quả.